Việt Nam đang đẩy nhanh quá trình làm chủ công nghệ 5G, đồng thời chủ động chuẩn bị nhân lực, hạ tầng và thể chế để nghiên cứu, tiếp cận và triển khai thế hệ công nghệ di động 6G trong tương lai.
Theo Cục Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến đầu năm 2026, các doanh nghiệp viễn thông tại Việt Nam đã triển khai hơn 40.000 trạm thu phát sóng 5G, đưa vùng phủ sóng 5G lên khoảng 91,9% dân số. Cả nước hiện có hơn 24 triệu thuê bao sử dụng dịch vụ 5G.
Ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, cho biết Việt Nam không phải quốc gia đi đầu về thời điểm triển khai 5G, nhưng tốc độ triển khai thuộc nhóm nhanh hàng đầu thế giới. Thông thường, nhiều quốc gia, kể cả những nước có trình độ phát triển cao, cần khoảng 2-3 năm để đạt vùng phủ trên 80% dân số.
Kết quả này cho thấy năng lực công nghệ của Việt Nam trong làm chủ, triển khai và tối ưu mạng lưới viễn thông ngày càng được nâng cao. Không chỉ phát triển hạ tầng, Việt Nam còn từng bước làm chủ một số công nghệ lõi của mạng 5G. Các doanh nghiệp trong nước đã nghiên cứu, sản xuất thành công thiết bị 5G theo tiêu chuẩn quốc tế và từng bước đưa sản phẩm ra thị trường.
Trong tổng số hơn 40.000 trạm 5G đang được triển khai, khoảng 2.500 trạm sử dụng thiết bị do Việt Nam sản xuất, chiếm trên 6%. Các doanh nghiệp viễn thông trong nước đang đặt mục tiêu tiếp tục nâng tỷ lệ thiết bị 5G do Việt Nam sản xuất trên mạng lưới.
Đây được xem là bước tiến quan trọng trong quá trình nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của ngành viễn thông, đồng thời tạo nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa thiết bị viễn thông thế hệ mới.
Chủ động tham gia quá trình chuẩn hóa 6G
Đối với công nghệ 6G, hiện thế giới vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu, trong khi các tiêu chuẩn liên quan đang được tổ chức 3GPP nghiên cứu, xây dựng. Theo ông Nguyễn Anh Cương, nghiên cứu và phát triển công nghệ viễn thông có tính đặc thù, không phải hoạt động riêng lẻ của từng quốc gia nhằm tạo ra một công nghệ độc lập.
Quá trình phát triển các thế hệ công nghệ di động đòi hỏi sự phối hợp, đồng thuận và thống nhất giữa các quốc gia, tập đoàn và doanh nghiệp viễn thông lớn, nhằm bảo đảm mạng lưới có thể vận hành đồng bộ, xuyên suốt trên phạm vi toàn cầu.
Do đó, việc nghiên cứu và chuẩn hóa công nghệ viễn thông được thực hiện thông qua các tổ chức quốc tế như Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) và các tổ chức tiêu chuẩn hóa như 3GPP. Việc tham gia sớm vào quá trình này sẽ giúp Việt Nam có điều kiện tiếp cận công nghệ, xu hướng kỹ thuật và các yêu cầu tiêu chuẩn ngay từ giai đoạn đầu.
Nhằm chủ động nắm bắt xu hướng công nghệ, chuẩn bị nguồn lực về con người, hạ tầng và tiếp tục hoàn thiện thể chế đáp ứng nhu cầu xã hội, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Ban chỉ đạo 6G. Ban chỉ đạo có sự tham gia của các cơ quan quản lý trong lĩnh vực viễn thông, tần số, doanh nghiệp và trường đại học.
Mô hình này tạo sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu 6G. Qua đó, doanh nghiệp và trường đại học có thể tiếp cận công nghệ ngay từ khi các tiêu chuẩn bắt đầu được hình thành, đồng thời mở ra cơ hội cùng nghiên cứu, đóng góp xây dựng tiêu chuẩn và chủ động chuẩn bị phương án triển khai phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Từ 4G, 5G đến mục tiêu rút ngắn thời gian làm chủ 6G
Thực tế cho thấy năng lực làm chủ công nghệ viễn thông của Việt Nam đã có bước tiến đáng kể qua từng thế hệ mạng. Trước đây, Việt Nam cần một khoảng thời gian đáng kể từ khi công nghệ 4G được chuẩn hóa đến khi có thể sản xuất và làm chủ thiết bị.
Đến giai đoạn 5G, nhờ kinh nghiệm tích lũy từ quá trình nghiên cứu và làm chủ 4G, khoảng thời gian này đã được rút ngắn còn gần hai năm. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam tiếp tục nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và sản xuất thiết bị viễn thông thế hệ mới.
Với nền tảng tích lũy từ 4G và 5G, Việt Nam kỳ vọng tiếp tục rút ngắn thời gian làm chủ công nghệ 6G, hướng tới mục tiêu chủ động nghiên cứu, tham gia xây dựng tiêu chuẩn và sẵn sàng triển khai thế hệ mạng mới khi công nghệ được hoàn thiện và đưa vào khai thác.
Việc chuẩn bị sớm cho 6G không chỉ là câu chuyện về phát triển hạ tầng viễn thông, mà còn liên quan đến năng lực nghiên cứu, nguồn nhân lực chất lượng cao, tiêu chuẩn hóa, sản xuất thiết bị và hoàn thiện thể chế. Đây sẽ là những yếu tố quan trọng giúp Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, đồng thời tạo dư địa để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái viễn thông toàn cầu.
Theo chatluongvacuocsong